PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Một lịch sử lâu dài
(Phần I)
Anne-Marie Blondeau
Nền Phật giáo được phổ biến rộng rãi trong thế giới Tây phương ngày nay là Phật giáo Tây Tạng. Nền Phật giáo ấy tự cho mình là nền Phật giáo chính thống nhất, trực tiếp phát xuất từ nền Phật giáo Ấn Độ, tuy nhiên trên quê hương núi non đó Đạo pháp (Dharma) của Đức Phật lại mang những sắc thái thật lạ thường.
Lời giới thiệu của người dịch: Một trong các tạp chí lớn của Pháp là tờ Le Point vừa phát hành một số ngoại lệ (số 5, tháng 2 và 3, năm 2010) với chủ đề Đức Phật, gồm hơn hai mươi bài do các ký giả và học giả có tiếng phụ trách. Dưới đây là phần lược dịch một bài nói về Phật giáo Tây Tạng do học giả Anne-Marie Blondeau viết. Bà là Giáo sư khảo cứu ưu tú (Directrice d'études émérite) của cơ quan giáo dục và khảo cứu hàng đầu của nước Pháp là Ecole pratique des Hautes Etudes (EPHE, chuyên ngành về tôn giáo). Ngoài ra bà còn hợp tác với hàn lâm viện Venise của Ý, hàn lâm viện khoa học xã hội ở Lhassa, viện Phật giáo Tây tạng thuộc đại học Vienne của Áo, viện đại học Oslo của Na-Uy. Đồng thời bà cũng là thành viên và cố vấn cho các ban biên tập của nhiều tờ báo chuyên ngành về Tây Tạng của Hoa Kỳ và Ấn Độ. Bà viết sách và viết báo khá nhiều. Bài viết dưới đây của bà trình bày một cách ngắn gọn bối cảnh phát triển của Phật giáo Tây tạng trên dòng lịch sử của xứ sở này. Nhiều "phần đóng khung" được ghép thêm bên cạnh bài viết trong mục đích trình bày và giải thích chi tiết hơn một vài khía cạch đặc thù của nền Phật giáo Tây tạng. Sau phần chuyển ngữ, người dịch cũng xin phép đưoc gởi gấm một vài cảm nghĩ của mình. (Hoang Phong)
Theo lịch sử của Tây tạng ghi chép thì Đức Phật đã giao cho ngài Quán Thế Âm Bồ-tát trọng trách truyền bá Đạo Pháp trên một miền quê hương tuyết phủ, và đấy cũng là sứ mạng phải khai phá và đưa dân đến sinh sống trong một miền lãnh thổ mà các vị hung thần đang ngự trị. Ngài Quán thế âm liền hóa thành một con khỉ ẩn tu và sống với một nữ hung thần của núi đá. Sự kết hợp đó sinh ra giống dân Tây Tạng. Vì thế những phẩm tính tốt cũng như những thói xấu của người dân nơi đây là những gì mà họ thừa hưởng từ những người đã sinh ra họ.
Bồ tát Quán thế âm tiếp tục chăm lo cho đám con cháu của mình. Khi thời cơ hội đủ thì Ngài hóa thân và trở thành vị hoàng đế đầu tiên của xứ Tây Tạng là Songtsen Gampo, vị hoàng đế này mang Phật giáo vào Tây Tạng để cải hóa xứ sở kể từ thế kỷ thứ VII. Vì thế hoàng đế Songtsen Gampo được xem là vị hóa thân đầu tiên khởi đầu cho chuỗi dài tái sinh liên tục của các vị Đạt-lai Lạt-ma. Suốt trên dòng tái sinh đó các vị Đạt-Lai Lạt-Ma là các ứng thân của người Bảo hộ xứ Tây Tạng tức là Bồ tát Quán thế âm. Sự gắn bó bền chặt của người dân Tây Tạng đối với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma thứ XIV là nhờ vào sự tích trên đây mà có.
Đại thừa Phật giáo và Tan-tra thừa
Các tư liệu liên quan đến giai đoạn phát triển đầu tiên của Phật giáo trên cao nguyên Tây Tạng thì ngày nay còn lưu lại rất ít. Vào thời bấy giờ tuy rằng Tây Tạng còn là một quốc gia chủ trương xâm lăng, tuy nhiên đối với các quốc gia Phật giáo lân bang thì vẫn duy trì việc giao thương đã có từ trước. Hoàng triều Songtsen Gampo bắt đầu biết đến giáo lý nhà Phật là nhờ một trong các bà hoàng hậu là một công chúa Trung quốc. Trong thời gian này chữ viết Tây Tạng cũng đã được phát minh dựa vào ngữ tự Ấn Độ, đấy là một loại chữ viết rất thích hợp cho việc dịch thuật kinh sách tiếng Phạn. Tuy nhiên mãi cho đến triều đại của hoàng đế Trisong Detsen vào thế kỷ thứ VIII, thì khi đó Phật giáo mới chính thức được nâng lên hàng quốc giáo. Hoàng đế Trisong Detsen ra lệnh bãi bỏ các tín ngưỡng đã có từ trước và cho xây dựng ngôi chùa đầu tiên ở thị trấn Samye (ngày nay đã trở thành một thánh địa), vị hoàng đế này còn đốc thúc việc dịch thuật kinh sách và đồng thời còn nhờ các vị thầy Ấn Độ đào tạo thêm các nhà dịch thuật mới. Hoàng đế Trisong Detsen cũng khởi xướng việc thành lập một cơ sở tài chính vững chắc cho hàng tăng lữ bằng cách miễn thuế và lao dịch (không bắt làm sâu) cho họ. Hoàng đế Trisong Detsen tổ chức dân chúng thành từng nhóm bảy gia đình, và mỗi nhóm phải liên đới chu cấp cho một nhà sư. Trong các triều đại thừa kế sau này thì sự ưu đãi đó còn được tích cực tăng cường hơn nữa. Tuy nhiên khi vị hoàng đế sau cùng của triều đại trên đây bị ám sát vào khoảng năm 842, thì nền Phật giáo được hoàng triều nâng đỡ cũng suy sụp theo, chỉ có các nhóm Phật giáo Tan-tra nhỏ tự lập còn tiếp tục sinh hoạt cho đến khi Phật giáo Tây Tạng hồi sinh trở lại vào thế kỷ thứ X.
Phật giáo truyền bá vào Tây Tạng bao gồm cả hai trao lưu lớn đang phát triển ở Ấn Độ và trong các quốc gia Phật giáo thuộc vùng Trung Á thời bấy giờ, đó là Phật giáo Đại thừa và Tan-tra thừa. Học phái Phật giáo Tan-tra cao siêu hơn hết thời bấy giờ được hình thành tại Ấn Độ dựa vào bộ kinh Thời luân (Kalacakra). Kinh Thời luân xuất hiện vào thế kỷ thứ XI và sau đó đã được dịch sang tiếng Tây Tạng vào năm 1027. Lịch sử Tây Tạng chép rằng việc du nhập cả hai nền Phật giáo Đại thừa và Tan-tra thừa là sáng kiến của hoàng đế Trisong Detsen. Vị hoàng đế này mời nhà sư Tịch Hộ (Shantarakshita) lên Tây Tạng để thuyết giảng về Đại thừa và để thụ phong cho các nhà sư đầu tiên trên phần đất này, đồng thời lại còn mời thêm nhà sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) lên Tây Tạng để khắc phục các vị thần linh và hung thần địa phương đang tìm cách ngăn chận việc xây dựng ngôi chùa đầu tiên. Nhân dịp này nhà sư Liên Hoa Sinh đã truyền dạy Phật giáo Tan-tra cho người Tây Tạng. Ngoài ra người ta cũng còn nhận thấy có một vài ảnh hưởng của Thiền học Trung quốc trong thời kỳ này ở Tây Tạng.
Ba con đường Tu tập
Vào đầu thế kỷ XX, nhiều văn bản gốc bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Hán đã được khám phá trong vùng ốc đảo Đôn Hoàng (Dunhuang), (ngày nay thuộc tỉnh Cam Túc Trung Quốc), các chứng tích này cho thấy tại Đôn Hoàng có nhiều cơ xưởng dịch thuật kinh sách từ tiếng Hán sang tiếng Tây Tạng và đã có một số thiền sư Trung Quốc từng du hành lên tận vùng trung bộ của cao nguyên Tây Tạng và lưu ngụ tại đây. Các vị này chủ trương một học thuyết cho rằng phải ngăn chận mọi diễn đạt chủ tâm của tri thức để từ đó bản thể của Phật tính tự tại nơi mỗi cá thể sẽ đột khởi hiển hiện, và sự hiển hiện ấy chính là sự giác ngộ. Học thuyết này chinh phục được một số người trong hoàng triều, nhưng mặt khác đã làm cho các vị thầy người Ấn phải lo ngại, các vị này thì chủ trương "con đường tu tập bằng cách tích lũy tuần tự" những điều xứng đáng, đúng theo nền Phật giáo chính thống. Họ bèn yêu cầu hoàng đế Tây Tạng chỉ nên chọn một trong hai phép tu mà thôi. Hoàng đế Trisong Detsen liền ra lịnh cho cả hai phía phải trình bày các luận chứng hơn thiệt về học phái của mình bằng các văn bản hẳn hoi. Các nhà sư Trung Quốc thua cuộc và mất hết ảnh hưởng trên Tây Tạng, sau đó họ còn bị người Tây Tạng xem là những người chủ trương dị giáo.
Sau biến cố trên đây người Tây Tạng dựa vào số kinh sách dồi dào sẵn có để tu tập theo các tông phái mà họ đã tiếp nhận từ trước. Tuy thế, hình như hoàng đế Trisong Detsen vẫn còn ít nhiều nghi ngại đối với các nhà sư thuộc học phái Tan-tra, dầu sao thì trong cách đối xử bên ngoài ông vẫn tiếp tục cho các vị này được hưởng các quyền hạn ngang hàng với các nhà sư Đại thừa khác. Đối với hàng tăng lữ nếu đã được thụ phong đúng theo truyền thống xuất gia của Đại thừa thì phải sống nơi tu viện, không được lập gia đình, không được uống rượu và phải tuân thủ nhiều giới luật thật khắt khe khác nữa. Trong khi đó đối với các nhà sư Tan-tra thì họ có quyền thành lập gia đình và không bắt buộc phải vào chùa. Vào thế kỷ XI, khi Phật giáo bành trướng trở lại ở Tây tạng thì các vị đại sư người Ấn trong đó có A-đề-sa (Athisa), chủ trương sáp nhập cả ba đường hướng trên đây (Tiểu thừa, Đại thừa và Tan-tra thừa) vào việc tu tập chung. Từ đó người Tây tạng gom tất cả "Ba Con đường Đạo" vào một hệ thống duy nhất để hướng vào một đối tượng duy nhất là sự giải thoát. Trong hệ thống đó Tiểu thừa dành cho những người có khả năng tinh thần trung bình, Đại thừa cho những người có khả năng tốt, Tan-tra thừa thì đặc biệt dành riêng cho những người có khả năng cao. Tuy thế, các thói tục và các truyền thống lâu đời của Tây Tạng vẫn còn rơi rớt lại và tiếp tục ảnh hưởng đến việc tu tập chung làm giảm đi một phần nào tính cách thuần nhất của Phật giáo thời bấy giờ.
Sự hòa đồng với các thần linh
Nhờ vào tính chất mềm dẽo mà Phật giáo đã thu nạp dễ dàng những gì không thể xóa bỏ đi được. Trong trường hợp ở Ấn Độ thì Phật giáo thu nạp các vị thần linh trong Ấn giáo vào bối cảnh chung của các thánh nhân Phật giáo và xem những vị ấy như những thuộc cấp của chư Phật và của các vị Bồ tát. Trong trường hợp ở Tây Tạng thì Phật giáo cũng thu nạp các vị thần linh và các hung thần của xứ này và đặt họ vào lãnh vực tín ngưỡng dân gian, chỉ ảnh hưởng đến sự sinh hoạt dân gian mà thôi. Trong bối cảnh của thế giới đầy thống khổ phát sinh từ sự u mê của con người thì các nghi thức lễ bái cũng tỏ ra hữu ích và mang lại một sự xoa dịu nào đó. Vì thế mà các tín đồ Phật giáo Tây Tạng vẫn có thể tiếp tục thờ cúng núi non, thần bếp, thần gia cư, v.v., và cả các vị thần dưới mặt đất sâu, thần sông ngòi. Họ tin rằng nếu thực thi các nghi thức lễ bái theo các cách thức tổ tiên lưu lại hướng vào các vị thần trên đây thì sẽ được họ che chở. Các nghi thức ấy gồm có việc hun khói bằng cành lá của cây đỗ tùng (genévrier), cắm cờ tụng niệm trên nóc nhà và các nơi đèo cao, lập bàn thờ phụng thần đất đai, đua ngựa giúp vui cho các vị thần nông..., ngoài ra họ còn tiếp tục sử dụng thuật bói toán nữa. Chỉ có một số người học rộng là xác nhận những thói tục ấy không phải là Phật giáo, cũng không liên hệ gì với nền Phật giáo nguyên thủy ở Ấn Độ. Tuy nhiên một số người tu hành ngày nay vẫn còn sử dụng thuật bói toán, kể cả chính phủ lưu vong của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng nhờ đến sấm truyền khi phải quyết định những vấn đề thật hệ trọng.
Ách thống trị của người Trung Quốc
Nhắc lại việc xâm chiếm và sáp nhập xứ Tây Tạng vào quốc gia cộng sản Trung Quốc (vào năm 1950) có lẽ cũng bằng thừa, hơn nữa chính sách tận diệt tôn giáo do chính quyền Trung Quốc khởi xướng, nhất là trong thời kỳ Cách mạng văn hóa (1966-1976) đã xóa bỏ gần như hoàn toàn tín ngưỡng Phật giáo trên đất nước Tây Tạng, tăng lữ bị đưa đi nông trường tập thể hoặc phải trở về đời sống thế tục. Hầu hết chùa chiền và các kiến trúc thờ phụng bị san bằng, kinh sách và các kho tàng nghệ thuật cất giữ trong các chùa chiền và nơi thờ phụng cũng bị phá hủy và đốt sạch, việc tu tập bị cấm đoán. Tuy nhiên kể từ năm 1980 thì cũng tương đối có một chút cởi mở nào đó và mọi người đều ngạc nhiên khi nhận thấy sự thành kính của người Tây Tạng đối với hàng tăng lữ và lòng mộ đạo của họ không hể suy yếu chút nào mà còn bùng dậy mãnh liệt hơn trước nữa. Họ ra sức xây dựng lại một số chùa chiền và các kiến trúc thờ phụng, lại cắm cờ cầu nguyện và tiếp tục tu tập theo tập tục đã có từ trước, chẳng hạn như thăm viếng các thánh địa, cầu nguyện và diễn hành chung quanh các kiến trúc thờ phụng, hành hương, cúng dường, thờ các thần núi... Tăng đoàn được thành lập trở lại chung quanh các vị sư lớn tuổi còn sống sót, dân chúng tấp nập xin quy y như trước.
Tuy nhiên luật pháp Trung Quốc vẫn được đem ra sử dụng trong mục đích kiểm soát thật gắt gao các tôn giáo. Các ủy ban hành chính địa phương, trong đó một số thành viên là do chính quyền chỉ định được thành lập và thiết đặt ngay bên trong các tu viện và chùa chiền để canh chừng các nhà sư, và nhất là để kiểm soát việc thu nhận các sa di. Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt nới lỏng cho các tu viện đại học ở Lhassa ra thì toàn thể các tu viện địa phương trên toàn xứ đều phải chịu sự giới hạn về số người tu hành, người dân thuộc vùng nào thì chỉ được xuất gia trong các chùa chiền thuộc vào vùng đó. Kể cả nam giới và nữ giới, không ai được xuất gia trước mười tám tuổi, trong khi đó thì ai cũng biết là theo truyền thống Tây Tạng thì mỗi gia đình có thể gởi con cái mình vào chùa từ khi chúng lên tám tuổi. Sau hết còn phải kể thêm là phần nội dung các chương trình tu học và lịch trình lễ bái nơi chùa chiền đều phải đơn giản hóa và giảm bớt đi. Việc tu tập của người thế tục cũng gặp phải nhiều khó khăn và bị cản trở. Trước kia sự tương quan giữa Phật tử và Tăng đoàn gắn bó bao nhiêu thì ngày nay bị canh chừng gắt gao bấy nhiêu.
Tình trạng câu thúc đó đã thúc đẩy hơn hai nghìn người Tây Tạng vừa sư sãi vừa người thế tục trốn ra khỏi nước mỗi năm, họ tìm đến những người đồng hương của họ để được giúp đỡ hoặc phải tá túc trong các chùa chiền được xây dựng trên đất Ấn. Kể từ năm 2000 thì "kế hoạch phát triền miền Tây" - gồm các tỉnh Tân cương, Tây tạng và kể cả các tỉnh phía Tây Trung Quốc mà trước kia là các tỉnh Kham và Amdo của Tây Tạng - được khởi xướng trong mục đích thực thi việc cai trị cứng rắn của Trung quốc. Nếu trước đây tôn giáo được xem như một giải pháp giai đoạn trên con đường xã hội hóa vì chính quyền Trung Quốc cho rằng việc tận diệt tôn giáo không thể sớm thực hiện được đối với số dân chúng còn "lạc hậu", thì nay đã được chính thức xem như một tệ trạng xã hội kiềm hãm sự tiến bộ ; viên chức và học sinh bị hăm dọa là nếu còn tiếp tục tu hành sẽ bị sa thải hay bị đuổi khỏi trường. Nếu ai lưu giữ hình Đức Đạt-Lai Lạt-Ma sẽ bị kết án ba năm tù. Tăng ni bắt buộc phải ký tên vào một tờ cam kết xác nhận Tây Tạng thuộc vào lãnh thổ của Trung Quốc và lên án Đức Đạt-Lai Lạt-Ma, nếu nhà sư nào không ký thì sẽ bị đuổi khỏi chùa. Người dân chịu đủ mọi thứ cấm đoán và hăm dọa, chẳng hạn như bị tước đoạt tài sản và địa vị xã hội. Họ còn bị cấm không được nói tiếng Tây Tạng với nhau, vì thế nên họ cảm thấy mất mát tất cả, mất cả quê hương và cả nguồn gốc dân tộc mình.
Cuộc sống lưu vong
Trên nguyên tắc thì tình trạng lưu vong ở Ấn Độ đúng ra phải được cải thiện hơn so với tình trạng trong nước, người dân Tây Tạng xa xứ cố gắng duy trì các thể chế chính trị và nền tín ngưỡng trước đây của họ, mỗi học phái lại xây dựng chùa chiền đúng theo truyền thống của học phái ấy trước đây, các phương pháp tu tập, thiền định và các nghi thức lễ bái lại được duy trì và bảo vệ thật nghiêm túc. Tuy nhiên, phải nói là có nhiều thay đổi đối với hàng tăng lữ, vì lý do là người dân Tây Tạng lưu vong chạy theo lối sống tân tiến, con cái họ được giáo dục theo cung cách của người Tây phương trước khi chúng xuất gia nơi tu viện. Đồng thời nhiều người Tây phương cũng xuất gia và sinh hoạt lẫn lộn trong tu viện, họ là những người Tây phương được xác nhận như những vị tái sinh (trulkou) hoặc họ chỉ là những người quyết tâm tu tập để trở thành các nhà sư hay các sư ni. Sự hiện diện của họ trong các tu viện mang lại những khó khăn mà trước đây không hề có. Thí dụ như dưới áp lực của các ni sư người Mỹ thì một số nhà sư Tây Tạng trong tăng đoàn cũng phải chấp nhận việc thụ phong hoàn toàn cho ni sư, mặc dù trước đây trên đất Tây Tạng việc thụ phong hoàn toàn cho nữ giới không hề xảy ra. Về phần những người thế tục lưu vong thuộc thế hệ thứ hai hay thứ ba thì họ không còn chuyên cần tu tập và tụng niệm hằng ngày như cha mẹ họ trước kia nữa và gia đình thì cũng không nghĩ đến việc gởi một trong số các con của mình xuất gia vào chùa. Đối với giới trẻ thì một số không tu tập gì cả, hoàn toàn mù tịt về giáo lý nhà Phật (kể cả một số không còn nói được tiếng mẹ đẻ), hơn nữa chúng còn chỉ trích tăng đoàn, xem tăng đoàn là lạc hậu và ỷ lại, chúng còn trách cứ Đức Đạt-Lai Lạt-Ma không chịu chủ trương dành lại độc lập toàn vẹn cho xứ Tây Tạng, và vì thế mà giới trẻ không ủng hộ chủ trương bất bạo động do Ngài đề xướng.
Sau hết cũng nên chú ý đến một sự kiện quan trọng khác liên quan đến sự bành trướng của Phật giáo trong thế giới Tây phương, sự bành trướng đó là một hậu quả thật bất ngờ do các vị đại sư Tây Tạng lưu vong mang lại. Các trung tâm Phật giáo mọc lên như nấm khắp nơi, chỉ riêng tại Pháp mỗi học phái cũng xây dựng được ít nhất một trung tâm tu tập. Sự quảng bá Phật Pháp trong một bối cảnh văn hóa và tâm tính con người hoàn toàn khác biệt so với bối cảnh của xứ Tây Tạng, nhất định sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn đề dịch thuật. Nếu người dịch không kèm thêm phần chú thích dông dài và chi tiết thì không thể nào có thể diễn tả được bằng các ngôn ngữ Tây phương các khái niệm Phật giáo vô cùng tinh tế và hoàn toàn xa lạ đối với nền triết học của phương Tây. Ngoài ra còn một vấn đề nữa được đặt ra là nếu muốn cho Phật giáo tồn tại lâu dài tại phương Tây thì phải làm thế nào giúp cho quảng đại quần chúng có thể vừa hiểu được dễ dàng phần giáo lý lại vừa thực hành được các phương pháp tu tập.
Tự duyệt xét và kiểm thảo
Người Tây Tạng sống lưu vong hình như cảm thấy khó chịu trước cách nhìn của người Tây phương về nền tín ngưỡng của mình, có lẽ chính vì lý do đó mà họ đã tìm cách thay đổi phần nào hình ảnh của Phật giáo, trước hết họ chỉ nhắm vào việc nêu lên một số nguyên lý căn bản về Đạo Pháp và các phẩm tính chủ yếu của Phật giáo, nhất là lòng từ bi, và sau đó là các phương pháp thiền định để tự tìm hiểu lấy chính mình và mang lại cho mình sự an bình trong tâm thức. Đấy là những gì thật sơ đẳng và cần thiết giúp mang lại những hành động đúng đắn. Trên một bình diện tổng quát hơn thì người Tây Tạng đã duyệt xét lại toàn bộ các nghi thức lễ bái Tan-tra, vì họ đã ý thực được là những nghi thức đó có thể mang lại hiểu lầm hoặc làm cho người khác e dè, chẳng hạn như các nghi lễ giống như ma thuật hoặc những hình ảnh tượng trưng cho sự giao hợp tình dục mô tả trong tối thượng Tan-tra. Tóm lại nền Phật giáo Tây Tạng dù được phổ biến ở bất cứ nơi nào cũng cần phải thích nghi để trường tồn.
Bures-Sur-Yvette,
Hoàng Phong