tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ

Bạn đang xem: tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ tại Trường THPT Kiến Thụy

Đề bài: tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của tác giả Nguyễn Công Trứ

Những bài văn mẫu giúp tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng

 

I. Dàn ý tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng (Chuẩn) 

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Công Trứ (tiểu truyện, đặc điểm con người, đặc điểm sáng tác,…)– Giới thiệu về bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, khái quát trị giá nội dung và trị giá nghệ thuật,…) 

2. Thân bài

a. “Ngất ngưởng”

– Xét theo nghĩa đen: “ngất ngưởng” là một từ láy sử dụng để chỉ độ cao – cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được.– Trong tác phẩm, “ngất ngưởng” là lối sống, thái độ sống của tác giả

b. 6 câu đầu: Ngất ngưởng khi ở chốn làm quan– Sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất– Ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:+ Sử dụng hàng loạt từ Hán Việt – Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông,… cùng văn pháp liệt kê và điệp ngữ.+ Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, đồng thời giữ nhiều chức vị quan trọng 

c. 13 câu còn lại: Ngất ngưởng khi cáo quan về hưu– Lối sống khác người, khác đời, trái khoáy+ Ngồi trên con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa+ Đi vãn cảnh chùa lại mang theo một cô gái hầu– Không chú ý nhiều tới chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất– Lối sống tự do, thỏa chí, muốn gì làm này, không vướng tục.– Ông đã có một lời tự tổng kết về thế cuộc đầy sáng tỏ và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.

c. Kết bài

Khái quát những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ và nêu cảm tưởng của bản thân.

 

II. Bài văn mẫu tìm hiểu bài ca ngất ngưởng 

1. tìm hiểu bài ca ngất ngưởng, mẫu số 1 (chuẩn):

Nguyễn Công Trứ không chỉ là một vị quan mà còn là một thi sĩ, nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng. Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm và thông qua những sáng tác ấy hiện lên rõ nét phong cách độc đáo của ông. Và có thể nói, bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” – tác phẩm được xem như bản tổng kết về thế cuộc của Nguyễn Công Trứ là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất của ông. 

Đọc bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy “ngất ngưởng” chính là cảm hứng xuyên suốt toàn bộ bài thơ, nó xuất hiện bốn lần trong tác phẩm. Vậy từ “ngất ngưởng” trong bài thơ nên được hiểu thế nào? Như chúng ta đã biết, “ngất ngưởng” là một từ láy sử dụng để chỉ độ cao – cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được. Tuy nhiên, trong tác phẩm, “ngất ngưởng” không phải được sử dụng với nghĩa ấy mà nó được sử dụng ở một tầng nghĩa khác, đó chính là lối sống, thái độ sống của tác giả. Và với cách hiểu đó, chúng ta sẽ thấy bài thơ có rất nhiều điều thú vị, hấp dẫn.

Trước hết, trong sáu câu thơ đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện rõ nét sự ngất ngưởng khi ở chốn làm quan. trước tiên, sự ngất ngưởng ở chốn làm quan được thể hiện ở sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất:

Vũ trụ nội mạc phi phận sựÔng Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Với hai câu thơ nhưng tác giả đã cho thấy thái độ về vị trí của mình. Với ông, mọi việc trong vũ trụ, trời đất đều là việc của mình, đồng thời, ông coi việc nhập thế chính là cách để ông bộc lộ tài giỏi, trí tuệ của mình. Và để rồi, từ sự khẳng định ấy, ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc ĐôngGồm thao lược đã nên tay ngất ngưởngLúc bình Tây cờ đại tướngCó khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Trong bốn câu thơ, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt – Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông,… cùng văn pháp liệt kê và điệp ngữ, từ đó cho người đọc thấy rõ tài năng và danh vị của mình. Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, đồng thời giữ nhiều chức vị quan trọng trong thế cuộc làm quan của mình. tương tự, trong sáu câu thơ đầu nào thơ, tác giả đã nói về tài năng, khoa danh vị của mình với một thái độ đầy trọng thể, nhấn mạnh và đầy tự hào.

Không chỉ ngất ngưởng ở chốn làm quan, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngưởng cả trong lối sống sau khi đã cáo quan về hưu, điều đó được thể hiện trung thực và rõ nét trong mười ba câu còn lại của bài thơ. Trước hết, lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi cáo quan về hưu được thể hiện ở lối sống khác người, khác đời, trái khoáy. 

Đô môn giải tổ chi niênĐạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Hai câu thơ đã gợi lên trước mắt chúng ta dáng ngồi ngất nghểu của tác giả trên lưng con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa – một dáng vẻ khác người, như muốn khiêu khích, trêu ngươi. Và để rồi, khi thả hồn mình vào mây trắng, núi cao, dáng vẻ ngất ngưởng của tác giả vẫn không thay đổi:

Kìa núi nọ phau phau mây trắngTay kiếm cung mà nên dạng từ biGót tiên theo lững thững một đôi gìBụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

có nhẽ trong văn học, chưa bao giờ chúng ta thấy một người nào đi vãn cảnh chùa giống như Nguyễn Công Trứ. Đi vãn cảnh chùa – nơi chốn thanh cao, tao nhã vậy mà lại mang theo một cô gái hầu. Cái dáng vẻ, cái lối sống ấy của ông khiến Bụt cũng phải chào thua, cũng phải bật cười. 

1 phan tich bai ca ngat nguong

Những bài tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng lớp 11 hay nhất

Đồng thời, trong lối sống của mình, Nguyễn Công Trứ không chú ý nhiều tới chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất chẳng biết cái nào hơn cái nào. 

Được mất dương dương người thái thượngKhen chê phơi phới ngọn đông phong.

Thêm vào đó, ở Nguyễn Công Trứ ta còn thấy hiện lên lối sống tự do, thỏa chí, muốn gì làm này, không vướng tục.

Khi tửu, khi ca, khi cắc, khi tùngKhông Phật, không Tiên, không vướng tục

tương tự, có thể thấy, thái độ, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ khi về hưu có những biểu hiện rất riêng. Tuy nhiên, ở ông ta vẫn thấy nhiều điểm nhất quán với cuộc sống trước đó, ông vẫn luôn là một bề tôi trung thành. Và để rồi, ông đã có một lời tự tổng kết về thế cuộc đầy sáng tỏ và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, PhúNghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chungTrong triều người nào ngất ngưởng như ông!

Tóm lại, bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ với âm điệu khẳng định, lối nói đậm tính khẩu ngữ đã thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp tư cách con người tác giả – một con người tài năng, lí tưởng sống hài hòa giữa cái vì đời và vì mình.

————–  Hết bài 1 —————-

Cùng với việc tìm hiểu những bài văn mẫu tìm hiểu bài thơ Bài ca ngất ngưởng hay, chọn lựa lọc ở trên, những em có thể tìm hiểu thêm những bài Bình giảng bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, Tìm hiểu tác phẩm Bài ca ngất ngưởng, tìm hiểu cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng, tìm hiểu cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ,…, để học và hiểu rõ hơn về nội dung tác phẩm. 

2.  tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng, mẫu số 2:

Nguyễn Công Trứ tự là Tồn Chất, hiệu là Hi Văn, sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. tổ tiên là Nguyễn Công Tấn, đậu hương cống, từng làm tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình), sau đó do hưởng ứng phong trào phò Lê chống lại Tây Sơn, nên được triều Lê phong tước Đức Nghi Hầu.

Nguyễn Công Trứ là một người tài năng hiếm có về nhiều mặt, đã sớm xác định trục đường tiến thân bằng khoa trường công danh. Thời trẻ, Nguyền Công Trứ học hành cần mẫn, nhưng thi cử long đong, mãi tới năm 42 tuổi mới đỗ hương nguyên. thế cuộc làm quan của ông lên xuống thất thường, vậy mà lúc nào ông cũng ôm ấp chí lớn và giữ đạo tôi trung Nguyễn Công Trứ tích cực thi hành chức trách, phận sự, kể cả việc nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, nhưng không thể mất yếu tố tiến bộ của nhà nho chân chính. Khi làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm. Trong việc khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã Đem lại lợi ích cho nhân dân ở nhiều nơi, đáng kể là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, mặc dù đã 80 tuổi Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ xin cầm quân đánh giặc. Cũng năm đó, ông qua đời.

Nguyễn Công Trứ là hiện tượng đặc biệt về một kẻ sĩ mà lại có cuộc sống phóng túng và cá tính tự do, độc đáo.

Thơ ca còn lại của Nguyền Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù, một bài phúng, đều viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra còn có một số bài thơ chữ Mán, một số câu đối Nôm.

Bài ca ngất ngưởng là tác phẩm được viết vào sau năm 1848, lúc Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu. Đây là tiếng nói của Hi Văn sau quãng đời hoán vị lộ khấp khểnh. Thời kì suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam được đánh dấu bằng sự xuất hiện của con người khát vọng tự do (như Chim trong lồng của Nguvền Hữu Cầu), người anh hùng “phản nghịch” (như Từ Hải trong Truyện Kiều), người phụ nữ “nổi loạn” (trong thơ Hồ Xuân Hương)… Cũng là sự phản ứng với hoàn cảnh, nhưng ở Nguyễn Công Trứ, sự biểu hiện chủ yếu trên phương diện quan niệm và lối sống bằng phương thức phóng to hình ảnh con người tư nhân tới mức khôi hài. Dưới con mắt của người đời và sự tôn xưng của Hi Văn thì đó là sự ngất ngưởng.

Bài thơ được viết theo thể ca trù hay còn gọi là hát nói, một lối thơ tự do về tiết điệu, câu chữ. Ở đây, thể tài thích hợp với nội dung xúc cảm của bài thơ.

Kết cấu bài thơ sắp như kết câu một bài thơ hát nói, chia làm nhiều đoạn gọi là khổ). Mỗi đoạn được kết bằng câu có từ “ngất ngưởng”, soi sáng những góc độ khác nhau của hình tượng nhân vật trữ tình, trên cơ sở cảm hứng chủ đạo mang tính nhân văn và ý nghĩa chống phong kiến.

phan tich bai ca ngat nguong 1

Hướng dẫn tìm hiểu bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ

Con người ngất ngưởng của Nguyền Công Trứ trước hết là con người tài năng, danh vọng. Câu thơ chữ Hán mở đầu cô đúc quan niệm lập thân của Nguyễn Công Trứ: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Đây là quan niệm mà ông đã nói nhiều bài thơ, nghĩ rằng con người sinh ra do “ý của trời đất” (“Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý” – Trời đất sinh ra ta là có ý), nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (Vũ trụ giai ngô phận sự” – Những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta). Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm ấy gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa anh hùng mà ông theo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, lạc quan trong suốt thế cuộc.

Sau quan niệm ấy là sự hiện diện một con người tài năng xuất chúng và danh vọng vẻ vang:

“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng…… có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”

Tính tự thuật qua những nhân vật từ nhân xưng về tên hiệu, quan chức, tài năng đã khắc họa con người tư nhân tự ý thức về mình, mức độ lộ ra ngoài bộ dạng: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ còn có ý vị trào phúng: một con người tầm cỡ vậy mà lại chịu đặt mình vào chiếc lồng hạn hẹp. Nhưng chút cười đùa này thực ra là để khẳng định lòng tự tin của Nguyễn Công Trứ.

Ông không phải không biết chốn quan trường đầy rẫy những dây nhợ nào buộc trói được. Trong phương thức biểu hiện có sự phối hợp hệ thống từ Hán – Việt và từ Nôm: những từ Hán Việt về quan chức, danh vị thể hiện một tài năng thành đạt gắn liền với xã hội phong kiến; còn từ Nôm là những từ thông dụng được sử dụng linh hoạt trong những câu thơ dài ngắn xen nhau, tiết điệu nhịp nhàng, tới dàn trải thế hiện con người tư nhân tự do, đồng thời ghi rõ những gốc sự ngất ngưởng ở con người đó là gì: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”. tương tự con người ngất ngưởng ở đây là con người cũng là cơ sở để tư nhân vượt lên khỏi mọi ràng buộc.

Cái ngất ngưởng trong thơ Nguyền Công Trứ là sự ngất ngưởng trước thế cuộc được mất. thế cuộc Nguyễn Công Trứ ghi được nhận bằng những chiến tích, những lần thăng quan tiến chức.

“Lúc bình Tây, cờ đại tưởngCó khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

Nhưng cũng có những bước thụt lùi, đắng cay. Theo sử sách ghi thì Nguyễn Công Trứ làm đại tướng, khi bị cách tuột làm lính thú, thăng quan hẳn là do tài năng hơn người của ông. Nhưng còn những lần bị giáng chức? Và tồn tại những lời thẩm bình của dư luận. Nguyễn Công Trứ thấy rõ đằng sau sự bất công mà ông phải chịu là mặt trái của xã hội phong kiến. Khi cần ông tố cáo gay gắt:

“Thế thái nhân tình gớm chết thayLạt nồng trông chiếc túi vơi đầy.

(Vịnh nhân tinh thế thái)

Tuy vậy, cách biểu hiện thái độ mà Nguyễn Cõng Trứ đặc biệt lựa chọn lựa là đem đối lập con người mình với thói tục bằng một tư thái ngông nghênh và tiếng cười đắc ý. Sách vở chép rằng lúc về hưu Nguyễn Công Trứ thường cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa, còn đem một mo cau buộc chỗ đuôi bò, nói là để che mồm thế gian. Và ông cho việc làm đó là sự ngất ngưởng:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

Bên trong tiếng cười và điệu bộ ấy là triết lí tự nhiên về sự được mất: “Được mất dương dương người tái thượng”. Nguyền Công Trứ đã thông qua điển tích “Tái ông thất mã” để phơi bày thực chất xã hội và đưa ra cách nhìn nhận của mình. Xã hội đầy biến động thời Nguyễn Cóng Trứ thiếu gì cảnh “lên voi xuống chó” và đó là mảnh đất sản sinh quan niệm về sự rủi may. Có điều là ở con người bản lĩnh cứng cỏi và niềm tin ở bản thản như Nguyễn Công Trứ thì quan niệm ấy không thể biến thành tư tưởng hoài nghi làm con người nhụt chí hay bị xô đẩy tới chủ nghĩa “vô vi” của Lão Trang. Trái lại, nó đem tới lí lẽ để ông không phải bận tâm với chuyện đời “nóng lạnh” và thêm vẻ “dương dương”.

Tuy nhiên, đối mặt với sự “được mất” cũng có nghĩa đối mặt với sự giàu nghèo, vinh nhục vốn là những trị giá vật chất ý thức truyền thống. Hiểu như thế chúng ta sẽ thấy con người “dương dương”, “ngất ngưởng” thực sự là con người có tài năng, phẩm chất vượt lên trên những thế lực xưa nay ngự trị trong cuộc sống con người.

Ngất ngưởng còn biểu hiện trong phong cách, lối sống.

Ở Nguyễn Còng Trứ có con người lí tưởng của chí làm trai thời phong kiến. Nhưng cũng có con người tư nhân sống hết mình; có con người hành động hăm hở, lạc quan và con người vui chơi bám đuổi theo thị hiếu: “Tay kiếm cung… một đôi dì” Nguyễn Công Trứ đã đem hết tài nàng và cảm hứng để vẽ bức tranh về cuộc sống riêng của mình: những từ láy đặc tả màu sắc, đường nét {“phau phau”, “đủng đinh”, “phơi phới”), những điệp từ phối hợp với nhịp thơ phóng khoáng (“Khi ca, khi tửu… không Phật, không Tiên…”) Khả năng biểu cảm dồi dào của tiếng Việt đã thể hiện đặc sắc cái phóng túng, ham mê của con người Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên đây không đơn thuần là một nhu cầu hưởng lạc được thi vị hóa. Nguyễn Công Trứ đã nâng được những gì được mô tả thành một phong cách, thành lối sống, và dụng ý nghệ thuật của thi sĩ là đã biến nó thành hình ảnh trái ngược với những tính giáo điều phong kiến. Hệ tư tưởng Nho giáo đòi hỏi ở mỗi con người trách nhiệm đổi với cộng đồng, nhưng lại phủ nhận “cái tôi”, áp đặt lên con người một cuộc sống khắc nghiệt, phi nhân tính. Còn đạo Phật, đạo Giáo thì hướng con người tới trục đường thoát tục và giảng giải việc đáp ứng những nhu cầu cuộc sống con người là nguyên nhân của sự thống khổ. Từ cuộc sống mà mình làm chủ Nguyễn Công Trứ tìm tới “non tiên”, “cảnh phật” vì thấy ở đó một toàn cầu thiên nhiên tươi đẹp gắn với những tư tưởng phong kiến siêu hình vươn lên một cuộc sống thực thụ của con người.

Phần kết của bài thơ Nguyễn Công Trứ khái quát về con người mình với đặc điểm: một tài năng, hoài bão lớn, sống trong xã hội phong kiến không thể không thấy trục đường, lí tưởng của xã hội để thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp; một tư cách và ý thức tư nhân mạnh mẽ, tự tin có đủ điều kiện chủ quan và tiền đề xã hội để đối lập với hoàn cảnh và phóng thích cá tính. Tổng hòa những mặt đó ở một con người, tạo nên phong cách sông ngất ngưởng. Từ “tay ngất ngưởng”, “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” tới “trong triều người nào ngất ngưởng như ông” bài thơ đã nâng lên sự khẳng định, đúng hơn là tự khẳng định một con người tiêu biểu cho một kiểu người có tính chất phi chính thống mang đậm sắc “cái tôi” hiện đại ngang nhiên tồn tại trong lòng xã hội phong kiến.

 

3. tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng, mẫu số 3:

Nguyễn Công Trứ, cái tên thật sự thân thuộc và sắp gũi mà từ xưa tới nay vẫn được bao người dân Việt Nam nhắc tới như một sự hàm ơn trân trọng về công lao khai phá ra hai vùng đất trù phú: Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Song không vì vậy mà ta có thể quên đi một Nguyễn Công Trứ, nghệ sĩ tài hoa, một tư cách đã khẳng định được cái bản ngã của chính mình, để từ đó định hình nên một tính cách, một bản lĩnh trong cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật. “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ sẽ cho ta thấy rõ cái bản lĩnh riêng không thể trộn lẫn ấy của ông.

Theo “tự điển Tiếng Việt”, ngất ngưởng được hiểu là ở thế không vững lắc lư, nghiêng ngả như chực ngã. Tuy nhiên hai chữ ngất ngưởng trong bài thơ này của Nguyễn Công Trứ cần được hiểu theo một cách khác, ở đây ngất ngưởng cần hiểu gắn với một cách sống, một thái độ sống. Có tương tự ta mới có thể hiểu được về con người Nguyễn Công Trứ – một con người có lối sống khác người, bất chấp mọi thế lực ở đời, một lối sống được khẳng định bằng chính tài năng tuyệt vời.

Toàn bộ bài thơ không chỉ là sự giải nghĩa lí giải về cái sự ngất ngưởng của chính mình, mà nó còn được xem như là một lời tự thuật về thế cuộc, là niềm tự hào về con người có công dài, tiền tài, đồng thời cho ta thấy một phong cách lối sống tài tử phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ.

phan tich bai ca ngat nguong 2

Bài văn mẫu tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng lớp 11 hay nhất

Mở đầu bài thơ là lời khẳng định về quan niệm sống của một đấng làm trai:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.(Mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta).

Câu thơ vang lên chắc nịch, khẳng định một cách mạnh mẽ và tự hào về quan niệm làm trai của Nguyễn Công Trứ. Đây là một quan niệm cho thấy Nguyễn Công Trứ luôn luôn ý thức được về bản thân mình, đồng thời luôn xác định được vị trí của mình trong thế cuộc. Điều này có được từ một kẻ sĩ có tài. Tuyên ngôn này của Nguyễn Công Trứ đã được khẳng định như một chân lí và trở đi trở lại như một mệnh đề thân thuộc trong thơ ông.

Vũ trụ giai ngô phận sự(Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – Nợ tang bồng).

Hay trong bài Gánh trung hiếu, Nguyễn Công trứ cũng đã khẳng định:

Vũ trụ chức vụ nộ(Việc trong vũ trụ là chức vụ của ta)

Nói tương tự để ta khẳng định rằng Nguyễn Công Trứ luôn luôn xác định cho mình một quan niệm sống tích cực, đồng thời càng cho thấy rõ sự tự ý thức về bản thân của chính tác giả.

Chính vì luôn luôn có ý thức về vị trí của chính mình trong trời đất mà Nguyễn Công Trứ không ngại ngùng khẳng định về chí làm trai, tác giả tuần tự chứng minh cho người đọc thấy được tài năng và bản ngã của chính mình:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồngKhi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc ĐôngGồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Nguyễn Công Trứ đã tự xưng danh, đồng thời khẳng định tài bộ (tài năng lớn, nhiều mặt) của bản thân với những thực danh: Thủ khoa, tham tán, Tổng đốc Đông. Câu thơ được ngắt nhịp ngắn đều, chậm rãi cùng với việc sử dụng điệp từ khi tạo nên một lối nói khẳng định đầy sự tự hào.

Tuy nhiên hiện lên trong bài thơ không chỉ là một Nguyễn Công Trứ thiên tài, mà còn là một Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế:

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

tương tự tới đây chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định một con người có tài năng thực sự và luôn luôn ý thức được về tài năng của chính bản thân mình. Đây cũng chính là sự khẳng định bản ngã của Nguyễn Công Trứ, là một phần trong phẩm chất mà ông tự hào gọi là tay ngất ngưởng. Để từ đó ta có thể hiểu ngất ngưởng theo một nghĩa tích cực, trong đó có sự khẳng định bản ngã của chính mình.

Một Nguyễn Công Trứ có tài, có thực danh tương tự, ấy mà khi trờ về đời thường lại là một tay ngạo nghễ giễu đời:

Đô môn giải tổ chi niênĐạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Cho nên ông không ngại ngùng đãi đằng một cách sống thật khác người, khác đời:

Kìa núi nọ phau phau mây trắngTay kiếm cung mà nên dạng từ biGót tiên theo đủng đinh một đôi dìBụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Là một nhà nho, từng là một danh tướng, từng xông pha trận mạc ấy vậy mà lại sống cuộc sống bình dị nên dạng từ bi. Tuy nhiên cái lối sống ấy của Nguyễn Công Trứ lại chẳng thông thường một tí nào: đi vãng cảnh chùa mà: “gót tiên theo lững thững một đôi dì” phải chăng ông đang bất chấp cuộc sống, đang giễu cợt sự đời, có nhẽ hiểu biết tương tự còn phiến diện. Bởi sinh tiền Nguyễn Công Trứ là một người biết chơi theo quan niệm sống hết mình và chơi cũng hết mình. Trong trần hoàn mấy mặt làng chơi… Biết mùi chơi chưa dễ mấy người hay ông từng tuyên bố nếu như không chơi thiệt ấy người nào bù… Vậy cũng có thể hiểu đây là một lối sống phóng túng, không chịu gò bó. Câu thơ được Nguyễn Công Trứ trình bày bằng nụ cười hóm hỉnh, nhiều tự hào của tác giả, phải chăng là cười cho sự khen chê của thiên hạ, có nhẽ là cả hai điều đó, bởi một điều thật đơn thuần.

Được mất dương dương người thái thượngKhen chê phơi phới ngọn đông phong

Với Nguyễn Công Trứ một khi đã thoát khỏi vòng lợi danh thì những chuyện được mất, khen chê ở đời xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông thổi qua mà thôi. Điều này chỉ có được khi người ta có bản lĩnh tự tin về tài năng của mình. Đó cũng chính là cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong đó chứa đựng hạt nhân của phong cách sống phóng túng, hiếm thấy của ông. Chính vì vậy mà ông có được cuộc sống thanh cao vui vẻ:

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùngKhông Phật, không Tiên, không vướng tục.

Câu thơ được ngắt nhịp hai, phối hợp với lối diễn đạt trùng điệp tạo cho câu thơ chậm rãi, từ đó lột tả được phong thái ung dung yêu đời, thanh cao của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Thái độ sống tương tự của ông có được từ con người luôn tự tin vào bản thân mình, luôn ý thức được bản thân. Sự phô bày bản ngã được bộc lộ rõ nét một cách tuyệt đỉnh ở khổ thơ cuối:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, PhúNghĩa vua tôi cho vẹn đạo xơ chungTrong triều người nào ngất ngưởng như ông!

Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ. Bằng lối so sánh với những bậc anh hùng như Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật… của đời Hán, Tống bên Trung Quốc. Tác giả đã khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng. Cũng có thể xem đó là những lời nói đầy tự hào về bản thân của chính tác giả. Để từ đó Nguyễn Công Trứ ngạo nghễ tuyên bố:

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

tương tự tới đây hẳn chúng ta đã hiểu cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ. Đó không phải là cái gì khác mà chính là thái độ, cách sống của một nhà nho tài tử. Nguyễn Công Trứ có được điều đó xuất phát từ tài năng, thực danh, từ sự làm tròn trách nhiệm. Vậy cái ngất ngưởng của ông không phải tiêu cực mà sự khẳng định bản thân của mình, là bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

Cùng với những bài thơ khác như Đi thi tự vịnh, Chí làm trai, Nợ tang bồng, Gánh trung hiếu… Bài thơ Bài ca ngất ngưởng đã một lần nữa vẽ rõ nét chân dung của thi sĩ. Đây chính là phong cách sống, phong cách nghệ thuật của con người và của thơ Nguyễn Công Trứ – phong thái ngất ngưởng.

 

4. tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng, mẫu số 4:

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là thi sĩ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. văn học lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống thế cuộc một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan. Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất,Phải có danh gì với núi sông”.

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm “Hàn nho phong vị phủ”, và trên 60 bài thơ hát nói vô cùng tài hoa. “Bài ca ngất ngưởng” là một trong những bài thơ hát nối tuyệt bút trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ dôi tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc thung dung, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hắt nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc phối hợp rất hài hoà, hấp dẫn.

Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau sắp 30 năm làm quan với triểu Nguyễn. Bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật vể thế cuộc, từ đó ông Hi Văn tự hào vể tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.

“Ngất ngưởng” tức là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (tự điển tiếng Việt). Trong bài thơ này nên hiểu “ngất ngưởng” là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.

Khổ đầu đựng cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai. Rất trọng thể và hào hùng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” – mọi việc trong vũ trụ chằng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng đinh tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (Những việc trong vũ trụ đểu thuộc phận sự của ta –Nợ tang bồng0; “Vũ trụ chức vụ nội” (Việc trong vũ trụ là chức vụ của ta – Gánh trung hiếu). Có cái tâm thế ấy, chính vì “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Hi Văn là tên hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài năng lớn, nhiều tài năng. Chữ “lồng” trong câu thơ có rất nhiều cách hiểu khác nhau. “Vào lồng là vào mực thước vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông” (Lê Trí Viễn). Có người lại giảng giải: “lồng là trời đất, vũ trụ”. Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, hoặc “Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn” (trần hoàn: cõi đời, trần giới). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói:

“Chí làm trai nam bắc tây đông,Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.

Sau khi đã xưng danh, thi sĩ tự khẳng định tâm thế mình, “tài bộ” mình, chí namnhi của mình mang tầm vốc vũ trụ.

phan tich bai ca ngat nguong 3

tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ để thấy được cái tôi cá tính, tài hoa của tác giả

Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cừ, ông dám thí thố với thiên hạ: “Cái nợ cẩm thư phải trả xong”. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lừng lẫy “Làm nên đấng anh hùng đâuu đó tỏ” (“Chí anh hùng”). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bời có văn võ toàn tài, bởi có “gốm thao lược”, và chính lúc đó ông Hi Văn mới trở thành “tay ngất ngưởng”, một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại chữ “khi” đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phí thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:

“Khi Thủ khoa! khi Tham tán ! khi Tổng đốc Đông,Gồm thao lược ! đã nên tay ! ngất ngưởng”.

Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: “Bình Tây cờ Đại tướng”. Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng. Ông đã từng nói: “Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục”. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ vể trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

“Đô môn giải tổ chi niên,Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào “ngựa ngựa xe xe” nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với “mồm thế”. Cho tới nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hi Văn thuở nào:

“Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn.Lợm mùi giáng chức với thăng quan.Điền viên dạo chiếc xe bò cái,Sẵn tấm mo che mồm thế gian”.

Tám câu tiếp theo trong hai khổ dôi nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – “tay kiếm cung” – vậy mà nay sống thế cuộc hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi”. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, nhũng nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên lững thững”…

“Kìa núi nọ phau phau mây trắng,Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.Gót tiên theo lững thững một đôi dì.Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”

Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng lợi danh rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính cốt cách khác đời, một tư cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm tới chuyện “được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hổn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong “Bài ca ngất ngưởng”:

“Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng /Không Phật / không Tiên / không vướng tục”.

Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hoà thanh (bằng, trắc), lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp (khi… không..,) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng tai tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hoà quyện trong những vẩn thơ đẹp như thế! Đúng là ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử.

Khổ xếp của bài hát nói chỉ có 3 câu. Câu cuối gọi là câu keo chỉ có 6 từ. Nên ghi đúng như văn bản ‘Tuyến tập thơ ca trù” – NXB Văn học 1987 mớí đúng thi pháp.

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”

Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thuỷ chung, trọn vẹn “nghĩa vua tôi”. Ông đã viết trong bài “Nợ tang bồng”:

“Chí tang bồng hứa với giang san,Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác”.

Tài năng, công danh mà Nguyễn Công Trứ để lại cho quốc gia và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những nhân tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh xa sắp, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” đĩnh đạc, hào hùng: “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”. Cái bản ngã phi thường của thi sĩ đã được phô bày tuyệt đỉnh.

Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưỏng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô uế, không vướng tục”, cũng không thoát li. Ngất ngưởng thế mới sang trọng.

Cái nhan đề, thi đề “Bài ca ngất ngưởng” của ông Hi Văn rất độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của thi sĩ cũng rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có rất nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất “ngông”. Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn. Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt tới đỉnh cao nghệ thuật. những câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên chưng. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hòa, lôi cuốn, hấp dẫn.

Trong nền thi ca cổ điển Việt nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… là nhũng thi sĩ cự phách để lại một số bài hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hoà nhập với chí anh hùng, nợ tang bồng, chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. “Bài ca ngất ngưởng” thực thụ là “Bài ca từ đáy lòng” của ông Hi Văn cho ta nhiều thú vị.

Trên đây là một số mẫu tìm hiểu tác phẩm Bài ca ngất ngưỡng. Bài thơ được Nguyễn Công Trứ sáng tác khi vừa trả lại phong ấn để về quê nghỉ hưu. Bài thơ như một bảng tổng kết thế cuộc của tác giả với những sự “ngất ngưởng” của ông, gồm cả trí tuệ, tài năng, cả cốt cách, cá tính và triết lí. Khúc ca trác tuyệt viết bằng thể Hát nói này là tài hoa và khí phách của “Ông Hi Văn”.

—————— Hết ——————–

tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng là một nội dung, bài học hay mà những em học sinh lớp 11 cần phải nắm vững nội dung. Sau phần khi học bài này, những em cần tiếp tục tham khảo bài mẫu tìm hiểu bài thơ Thương Vợ của Tú Xương cùng với phần cảm tưởng của em về nhân vật Kim Trọng qua đoạn thơ Kiều gặp Kim Trọng để học tốt môn Ngữ Văn hơn. Chúc những em học tốt!

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: Trường Cmm.edu.vn (thptphandinhphung.edu.vn)

Bạn thấy bài viết tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ bên dưới để Trường THPT Kiến Thụy có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptphandinhphung.edu.vn của Trường THPT Kiến Thụy

Nhớ để nguồn bài viết này: tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ của website thptphandinhphung.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Qua bài viết trên, Đạo Tâm hy vọng với những thông tin đã chia sẻ trong bài viết “tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ❤️️”.có thể giúp bạn có thêm nhiều thông tin cũng như hiểu rõ hơn về chủ đề “tìm hiểu Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ” [ ❤️️❤️️ ]”.

Related Articles

Back to top button